Đăng Nhập

Menu Trái

   Đóng

Banner trái

   Đóng
VBPL_CP
Dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992
Đề tài, dự án khoa học và công nghệ
Lấy ý kiến người dân
Góp ý web
Thủ tục hành chính
Email Kontum

Truy cập

   Đóng
LƯỢT TRUY CẬP
106.922

Kết quả nghiên cứu khoa học

   Đóng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Đề tài: “Nghiên cứu xác định các giống đậu đỗ (lạc, đậu tương, đậu xanh) thích nghi với các tiểu vùng sinh thái tỉnh Kon Tum”

 

Cơ quan thực hiện đề tài: Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Hồ Huy Cường

Thời gian thực hiện: 3/2005 - 12/2007

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Lạc, đậu tương và đậu xanh là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao được dùng làm thực phẩm cho người và thức ăn cho chăn nuôi, là mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng, đồng thời cũng là đối tượng cây trồng có khả năng cải tạo đất rất tốt. Do đó, việc phát triển và mở rộng sản xuất các loại cây họ đậu để tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích và sử dụng bền vững tài nguyên đất là một trong những chủ trương, định hướng của cả nước nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng. 

Diện tích gieo trồng đậu đỗ các loại và lạc tại tỉnh Kon Tum hằng năm khoảng trên dưới 1.300 ha, năng suất đậu đỗ đạt bình quân 9,9 tạ/ha và lạc đạt 9,3 tạ/ha, năng suất trên chỉ mới đạt tương đương khoảng 50% so với năng suất bình quân chung cả nước và bằng 30% so với các vùng trọng điểm.Lạc, đậu tương và đậu xanh là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao được dùng làm thực phẩm cho người và thức ăn cho chăn nuôi, là mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng, đồng thời cũng là đối tượng cây trồng có khả năng cải tạo đất rất tốt. Do đó, việc phát triển và mở rộng sản xuất các loại cây họ đậu để tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích và sử dụng bền vững tài nguyên đất là một trong những chủ trương, định hướng của cả nước nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng.

Mặc dù trong thời gian qua bằng các phương cách khác nhau trên địa bàn tỉnh cũng đã du nhập một số giống lạc, đậu tương mới về để phục vụ sản xuất: như giống đậu tương ĐT99, ĐT96... nhưng với diện tích không lớn và không mở rộng thành sản xuất hàng hóa có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, nguyên nhân hạn chế tiềm năng năng suất cũng như mở rộng sản xuất cây họ đậu tại tỉnh Kon Tum là bộ giống lạc, đậu tương và đậu xanh sử dụng trong sản xuất vẫn là các giống cũ (như lạc lỳ...) thóai hóa, do nông dân tự để và biện pháp thâm canh để nâng cao năng suất chưa hợp lý (mật độ gieo trồng, liều lượng phân lân, các chất kích thích sinh trưởng...)

Do đó, để phát triển sản xuất cây lạc, đậu tương và đậu xanh tại tỉnh Kon Tum theo hướng sản xuất hàng hóa phục vụ công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn tỉnh, góp phần xoá đói giảm nghèo thì việc trước tiên cần phải xác định được bộ giống lạc, đậu tương, đậu xanh và kỹ thuật thâm canh thích nghi với điều kiện đất phù sa và đất xám ở 2 tiểu vùng sinh thái là núi thấp - thung lũng sông Sa Thầy (huyện Sa Thầy) và trũng Kon Tum (thành phố Kon Tum, Đăk Hà, Đăk Tô). 

II. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

Xác định giống lạc, đậu tương và đậu xanh có tiềm năng năng suất cao thích nghi với một số tiểu vùng sinh thái tỉnh Kon Tum.

III. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.      Nội dung nghiên cứu

Điều tra hiện trạng sản xuất lạc, đậu tương, đậu xanh.

Nghiên cứu về cây lạc: Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống lạc triển vọng trong vụ 1 và vụ 2; Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến năng suất lạc trong vụ 1 và 2 tại tỉnh Kon Tum; Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến năng suất lạc trong vụ 1 và 2 tại tỉnh Kon Tum; Xây dựng mô hình trình diễn giống lạc mới.

Nghiên cứu về cây đậu tương: Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống đậu tương triển vọng trong vụ 1 và vụ 2; Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến năng suất đậu tương trong vụ 1 và 2 tại tỉnh Kon Tum; Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến năng suất đậu tương trong vụ 1 và 2 tại tỉnh Kon Tum; Xây dựng mô hình thâm canh đậu tương đạt năng suất cao tại tỉnh Kon Tum.

Nghiên cứu về cây đậu xanh: Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống đậu xanh triển vọng trong vụ 1 và vụ 2; Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến năng suất đậu xanh trong vụ 1 và 2 tại tỉnh Kon Tum; Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến năng suất đậu xanh trong vụ 1 và 2 tại tỉnh Kon Tum; Xây dựng mô hình thâm canh đậu xanh đạt năng suất cao tại tỉnh Kon Tum.

2. Phương pháp nghiên cứu

Đối với điều tra hiện trạng sản xuất:  Sử dụng phương pháp kế thừa để điều tra thu thập các số liệu thứ cấp về diện tích, độ phì đất đai, khí hậu thời tiết ở các đơn vị chức năng trên địa bàn triển khai thực hiện đề tài; Lập phiếu điều tra để ghi nhận những thông tin trong quá trình phỏng vấn; Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA- Rapid Rural Appraisal), đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA- Participatory Rural Appraisal), nhóm cung cấp thông tin chủ lực (KIP- Key Information Panel) để phỏng vấn và thu thập các thông tin liên quan đến chủng loại giống, kỹ thuật canh tác, mức độ thâm canh trong sản xuất, năng suất, hiệu quả,...; Sử dụng phương pháp phân tầng để thu thập thông tin theo mẫu phiếu điều tra; Phân tích số liệu điều tra theo phương pháp thống kê qua chương trình máy tính Excell.

Đối với nội dung triển khai thực nghiệm: Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân để chọn điểm triển khai và tham gia đánh giá kết quả; Sử dụng phương pháp thí nghiệm trên nông trại (on farm research) để tiến hành bố trí các thực nghiệm. Các thực nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 - lần lặp lại; Số liệu thực nghiệm được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học thông qua phần mềm máy tính IRRISTAT và Excell.

Phương pháp điều tra sâu, bệnh hại: Sâu, bệnh hại đậu đỗ được tiến hành điều tra 5 cây/ô thí nghiệm, các cây phân bố theo đường chéo góc hoặc đánh giá mức độ phổ biến của sâu, bệnh hại bằng tỷ lệ (%) theo công thức:

C% =     x  100

Trong đó: C% là tỷ lệ cây hoặc lá, hoặc bông bị hại; a là tổng số cây hoặc lá, hoặc bông bị hại; N là tổng số cây hoặc lá, hoặc bông điều tra;                              

Mức độ phổ biến được phân cấp: (+) là ít phổ biến, tương ứng tỷ lệ bị hại từ 1 - 25%; (++) là phổ biến, tương ứng tỷ lệ bị hại từ 26 - 50%; (+++) là rất phổ biến, tương ứng tỷ lệ bị hại trên 50%.

Phương pháp tính hiệu quả kinh tế:  Tổng giá trị thu nhập (GR) = năng suất x giá bán; Tổng chi phí lưu động (TVC) = chi phí vật tư + chi phí lao động + chi phí năng lượng + lãi suất vốn đầu tư; Lợi nhuận (RVAC) = GR – TVC; Tỷ suất lãi so với vốn đầu tư = GR/TVC.

IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Hiện trạng sản xuất lạc, đậu tương và đậu xanh ở tỉnh Kon Tum

Từ kết quả điều tra và đánh giá hiện trạng sản xuất lạc, đậu tương và đậu xanh ở tỉnh Kon Tum bước đầu nhận định những lợi thế và hạn chế trong việc phát triển sản xuất đậu đỗ nói chung ở tỉnh Kon Tum như sau:

Lợi thế:  Điều kiện đất đai và khí hậu tương đối thích hợp để phát triển sản xuất cây đậu đỗ mà đặc biệt là cây lạc và cây đậu tương theo hướng hàng hóa; Được sự quan tâm của các cấp chính quyền thông qua việc đề xuất chủ trương đẩy mạnh công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng; Thị trường tiêu thụ sản phẩm và biến động giá thị trường của cây lạc và cây đậu tương tương đối ổn định, hiệu quả trên đơn vị đất canh tác thường cao hơn so với một số đối tượng cây trồng khác trên cùng loại đất.

Hạn chế: Thiếu bộ giống đậu đỗ có tiềm năng năng suất cao và hạt giống phẩm chất tốt để phục vụ sản xuất; Người nông dân chưa quen với tập quán sản xuất cây đậu đỗ, thiếu thông tin tiến bộ kỹ thuật canh tác đậu nên trong quá trình sản xuất chưa quan tâm đúng mức đến thâm canh, phòng trừ sâu bệnh hại không kịp thời và công tác thu hoạch, bảo quản chưa hợp lý vì thiếu công cụ hỗ trợ; Tỷ lệ lớn nông hộ còn khó khăn về kinh tế nên thiếu vốn trong đầu tư cho sản xuất nông, lâm nghiệp nói chung và cho cây đậu đỗ nói riêng.

 2. Kết quả nghiên cứu cây lạc

-  Về giống lạc :

+ Giống lạc L14 có thời gian sinh trưởng là 97 ngày, khối lượng 100 quả đạt bình quân 130,5g. Năng suất trên đất phù sa đạt 46,4 tạ/ha và trên đất đồi đạt 43,9 tạ/ha, cao hơn đối chứng trên 50% và ổn định ở các điểm thí nghiệm.

+ Giống lạc LDH 01 có thời gian sinh trưởng là 97 ngày, khối lượng 100 quả đạt bình quân 150,0g. Năng suất trên đất phù sa đạt 53,6 tạ/ha và trên đất đồi đạt 46,1 tạ/ha, cao hơn đối chứng trên 56% và ổn định ở các điểm thí nghiệm.

- Về phân lân bón cho lạc:

+ Trên đất đồi công thức bón 120 kg P205/ha  đạt năng suất từ 39,4-42,2 tạ/ha, cao hơn đối chứng không bón lân 63,2-105,8% và cho hiệu quả cao nhất.

+ Trên đất phù sa công thức bón 90 kg P205/ha  đạt năng suất từ 32,2-37,8 tạ/ha, cao hơn đối chứng không bón lân 65,9-107,1% và cho hiệu quả cao nhất.

- Về mật độ gieo trồng lạc: Trên đất đồi và đất phù sa mật độ gieo 30 x 10 cm (33,3 cây/m2) cho năng suất thực thu cao hơn các mật độ gieo trồng khác trong thí nghiệm đều 20-50%. Hơn nữa khi gieo ở mật độ này, tạo hàng đậu cách hàng đậu 30cm, cây cách cây 10cm rất thuận lợi cho việc chăm sóc.

3. Kết quả nghiên cứu cây đậu tương

- Về giống  đậu tương:

+ Giống M103 có thời gian sinh trưởng là 86 ngày, khối lượng 1.000 hạt đạt bình quân 2.13,1g - đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng hạt. Năng suất trên đất phù sa đạt 34,74 tạ/ha và trên đất đồi đạt 20,9 tạ/ha, cao hơn đối chứng 30% và ổn định ở các điểm thí nghiệm.

+ Giống ĐT12 có năng suất trên đất phù sa đạt 19,12 tạ/ha và 17,5 tạ/ha – thấp hơn so với những giống đậu  tương khác, nhưng thời gian sinh trưởng ngắn hơn các giống khác từ 10-20 ngày, đây là một lợi thế so với các giống khác. Sử dụng giống ngắn ngày để thu hoạch vào đầu mùa mưa tránh gặp khó khăn khi thu hoạch lại gặp mưa kéo dài. Hơn nữa với chiều cao cây thấp đạt bình quân ổn định ở các điểm chỉ khoảng 37,7cm. Với các đặc tính trên giống ĐT12 rất phù hợp để phát triển sản xuất trong việc trồng xen với cây sắn trên đất đồi ở Kon Tum.

- Về phân lân bón cho đậu tương: Trên đất đồi và đất phù sa bón 90 kg P205/ha đạt năng suất từ 29,6-33,1 tạ/ha, cao hơn đối chứng không bón lân 63,2-105,8% và cho hiệu quả cao nhất.

- Về mật độ gieo trồng đậu tương: Trên đất đồi và đất phù sa mật độ gieo 30x10cm (33,3 cây/m2) cho năng suất thực thu cao hơn các mật độ gieo trồng khác trong thí nghiệm 10-40%. Hơn nữa khi gieo ở mật độ này, tạo hàng đậu cách hàng đậu 30cm, cây cách cây 10cm rất thuận lợi cho việc chăm sóc.

4. Kết quả nghiên cứu cây đậu xanh

- Trên đất đồi, đậu xanh sinh trưởng phát triển rất kém, ở giai đoạn sinh trưởng 7-25 ngày sau gieo cây bị thui ngọn và lụi dần khi gặp điều kiện thời tiết sương nhiều vào đêm kèm theo nhiệt độ ngày và đêm chênh lệch cao.

- Trên đất phù sa, đậu xanh sinh trưởng phát triển rất tốt trong vụ 1, nhưng khi chín trùng vào thời điểm mùa mưa nên không thu hoạch được.

Kết quả nghiên cứu khi so sánh đánh giá về tính thích nghi với điều kiện sinh thái, tình hình sâu bệnh và phù hợp với trình độ sản xuất của người dân Kon Tum và hiệu quả kinh tế giữa cây lạc, đậu tương, đậu xanh cho thấy cây lạc có ưu thế hơn cả - vì cây lạc có khả năng chịu hạn tốt hơn, mùa vụ ổn định hơn, sâu bệnh hại không đáng kể, hiệu quả cao hơn, đặc biệt đối với vụ 1 khi thu hoạch có thể bán tươi để tư thương chuyển xuống Bình Định phơi, trong vụ 2 bán được giá cao cho các tỉnh Duyên hải Miền Trung làm giống cho vụ Đông xuân.

V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Đề nghị các cơ quan chuyên ngành bổ sung giống lạc L14, LDH01 và giống đậu tương ĐT12, M103 vào cơ cấu giống của tỉnh, phù hợp với điều kiện sinh thái ở các huyện Sa Thầy, Đăk Hà, Kon Rẫy, Đăk Tô, Đăk Glei và Thành phố Kon Tum.

Ở Kon Tum, phát triển cây đậu đỗ trên quan điểm không tranh chấp với những cây trồng chính có tính chiến lược của tỉnh như lúa, sắn, ngô, mía, cao su,... chỉ theo hình thức luân canh, tăng vụ, trồng gối vụ, tăng cường trồng xen trên đất hai vụ lúa, đất cây lương thực, cây công nghiệp dài ngày trong thời gian kiến thiết cơ bản, thực hiện chủ trương lấy ngắn nuôi dài, với phương châm phát triển sản xuất phải đạt hiệu quả kinh tế và sử dụng tài nguyên đất lâu bền.

Những vấn đề cần quan tâm khi sản xuất đậu đỗ:

- Về thời vụ, hầu hết diện tích sản xuất đậu đỗ ở Kon Tum phụ thuộc vào nước trời, khả năng giữ nước của đất đồi ở Kon Tum rất kém mà lượng mưa diễn biến thất thường tùy năm, đặc biệt là đầu và cuối mùa mưa. Vì vậy, sản xuất đậu cần xuống giống theo thời vụ sau:

+ Đối với lạc: Trên đất phù sa có thể gieo trồng 2 vụ/năm, Vụ 1: Gieo vào đầu tháng 4 đến cuối tháng 4, thu hoạch vào giữa đến cuối tháng 7; Vụ 2: Gieo vào cuối tháng 7 đến đầu tháng 8, thu hoạch và đầu tháng 11. Trên đất đồi nên gieo trồng 1 vụ/năm, Vụ 1: Gieo vào đầu tháng 5 đến cuối tháng 5, thu hoạch vào giữa đến cuối tháng 8; hoặc gieo Vụ 1 nhỡ: Gieo vào đầu tháng 6 đến cuối tháng 6, thu hoạch vào tháng 9 đến đầu tháng 10.

+ Đối với đậu tương: Trên đất phù sa có thể gieo trồng 2 vụ/năm, Vụ 1: Gieo vào đầu tháng 4, thu hoạch vào giữa tháng 7; Vụ 2: Gieo vào cuối tháng 7 đến đầu tháng 8, thu hoạch vào đầu tháng 11. Trên đất đồi nên gieo trồng 1 vụ/năm: Gieo vào đầu tháng 5 thu hoạch vào đầu tháng 7.

- Về phân bón: Lân và vôi là một trong số các loại phân bón cần thiết khi trồng cây đậu đỗ mà người dân ít quan tâm.

Đăng bởi : Administrator Account Ngày đăng : 17/04/2013 Lượt xem : 2489
Quay Về

Thông báo - Hình ảnh

   Đóng
THÔNG BÁO
THÔNG TIN CHUNG

Banner phải

   Đóng
VBPL_KonTum
HoChiMinh
Tạp chí CS
Nông thôn mới